|
Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu (1918-2012) là một bậc cao tăng thạc đức có nhiều đóng góp cho Phật giáo Việt Nam thời hiện đại. Nhân kỷ niệm ngày húy kỵ lần thứ 12 của Ngài, bài viết này sẽ trình bày về dòng dõi gia thế; quá trình tu học và hoằng dương Phật pháp; xây dựng và điều hành Viện Đại học Vạn Hạnh; sáng lập và phát triển Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và Học viện Phật giáo Việt Nam; giới thiệu những trước tác của Ngài cùng những dịch thuật kinh tạng Pali sang Việt văn, để từ đó khẳng định Ngài xứng đáng được tôn vinh là bậc tùng lâm thạch trụ của Phật giáo Việt Nam, là nhà giáo dục - văn hóa tư tưởng lớn của Việt Nam thế kỷ XX. 1. Dòng dõi và gia thếHòa thượng Giáo sư Tiến sĩ Thích Minh Châu có thế danh là Đinh Văn Nam (1918-2012), sinh năm 1918 tại Quảng Nam, tịch năm 2012 tại TP.HCM, nguyên quán ở Nghi Lộc, Nghệ An. Dòng họ Đinh Văn ở xã Kim Khê, tổng Kim Nguyên, huyện Chân Lộc, phủ Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (nay là xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) là một danh gia vọng tộc, khoa bảng, có truyền thống yêu nước thương dân. Cao tằng tổ, Tằng tổ, Nội tổ, thân phụ và bản thân Hòa thượng đều đỗ Tiến sĩ. Trong lịch sử giáo dục khoa cử ở nước ta, trải qua gần ngàn năm, hiếm có một gia tộc nào mà có 5 đến đời liên tục được nhận học vị Tiến sĩ, tức ngũ thế đăng khoa như gia tộc Đinh Văn này ở Nghi Lộc. ![]() Cao Tằng tổ (ông sờ) là Khê Đình hầu Đinh Hồng Phiên, Tiến sĩ khoa Ất Dậu (1787), được giữ chức Toản tu Quốc Sử quán cuối triều Lê trung hưng (đời Lê Hiển Tông). Sang triều Nguyễn, ông được vua Gia Long mời ra làm Đốc học Quảng Nam, là tác giả nhiều thơ văn, là người khởi thảo bài Đế hệ thi triều Nguyễn[1] và bài bi ký bằng chữ Hán khi Lai Viễn kiều (dân gian thường gọi là cầu Nhật Bản) ở Hội An được trùng tu. Tằng tổ (ông sơ) là Đinh Văn Phác (1802-1833), Tiến sĩ khoa Nhâm Ngọ (1822), đây là khoa thi Hội, thi Đình đầu tiên dưới triều Nguyễn được tổ chức. Ông từng làm quan dưới triều đại này. Năm 1933, do thân phụ ông bị tội, vua Minh Mệnh đã ra lệnh đục bỏ tên trên bia Tiến sĩ và hành hình thân mẫu cùng 4 anh em của ông. Cao tổ (ông cố) là danh y Đinh Văn Kế. Nội tổ (ông nội) là Đinh Văn Chất (1847-1887), đỗ Tiến sĩ khoa Ất Hợi (1875) dưới triều Tự Đức, làm quan Tri phủ ở Nghĩa Hưng, được triều đình gia phong Triều liệt Đại phu Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ. Khi Pháp đánh vào cửa Hội – Nghệ An, cụ Đinh Văn Chất lãnh đạo nhân dân kháng Pháp, cụ hy sinh tháng 8 năm 1887 (bị thực dân Pháp chặt đầu bêu xác). Vì việc này mà gia đình cụ Nghè bị thực dân Pháp ép vua Đồng Khánh xử án “tru di tam tộc”. Họ hàng con cháu của cụ một số bị giặc sát hại, một số bị cầm tù; còn triều đình nhà Nguyễn thì hạch tội và xóa tên trên bia Tiến sĩ tại Văn miếu Huế. Đây là lần thứ hai dưới triều Nguyễn, dòng họ Đinh Văn ở Nghi Lộc chịu họa diệt tông. Khi thực dân Pháp xử trảm những thân nhân của cụ Nghè thì một người bà con bên ngoại đã nhanh tay bế cậu bé Đinh Văn Chí, sinh năm 1882, là đứa con trai duy nhất của ông, chạy thoát khỏi pháp trường, trốn xuống biển Hải Phòng, lánh sang tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, hơn 10 năm sau mới về nước. Được bên ngoại nuôi dạy, để che giấu thân phận, bên ngoại đã khai hạ tuổi cho ông (ghi sinh năm 1893) và đổi tên thành Đinh Văn Chấp. Thân phụ là Hoàng giáp Đinh Văn Chấp (tức Đinh Văn Chí, 1882-1953), thuở ấu thơ phải lánh nạn tru di như trên có nêu, ông đỗ Cử nhân khoa Nhâm Tý (1912), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Quý Sửu (1913), niên hiệu Duy Tân thứ 7, từng giữ chức Đốc học[2] tỉnh Quảng Nam, sau đó cáo quan về nhà dạy học, viết sách, viết báo, dịch thuật. Bản thân Hòa thượng là con cả của cụ Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, trước khi xuất gia tu học, năm 1940. Ngài thi đỗ Tú tài toàn phần, được bổ làm Thư ký Tòa Khâm sứ tỉnh Thừa Thiên, nhưng một năm sau thì xin nghỉ việc. Ngài từng du học tại Sri Lanka và Ấn Độ từ năm 1952, nhận bằng Tiến sĩ tại Đại học Nalanda năm 1961, năm 1962-1963, được mời ở lại giảng dạy tại trường, đến năm 1964 Ngài về nước, trước 1975 là Giáo sư Tiến sĩ quản lý và giảng dạy tại Đại học Vạn Hạnh, thỉnh gảng tại Đại học Văn khoa Sài Gòn, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Giáo dục của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, kiêm Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh (Sài Gòn); sau 1975 là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Hiệu trưởng Trường Cao cấp Phật học Việt Nam (sau là Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam), Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự, Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Đại biểu Quốc hội các khóa VII, VIII, IX, X, Phó chủ tịch Hội Phật giáo Châu Á vì Hòa bình, Chủ tịch Trung tâm ABCP Việt Nam. Hòa thượng còn là một học giả và là một dịch giả danh giá với nhiều công trình nghiên cứu, phiên dịch kinh tạng Pali có giá trị học thuật cao. Truy tìm để ghi lại gia phả như trên nhằm khẳng định họ Đinh Văn ở Nghi Lộc xứ Nghệ là một dòng tộc có truyền thống khoa bảng, yêu nước, danh gia vọng tộc, mà các thế hệ ông cha con cháu của gia đình Ngài là minh chứng điển hình. 2. Quá trình tu học và hành đạo, hoằng dương Phật phápNăm 1940 Hòa thượng thi đỗ Tú tài toàn phần Pháp Việt tại Trường Lycée Khải Định Huế (nay là Trường Quốc Học), rồi được bổ làm Thư ký Tòa Khâm sứ tỉnh Thừa Thiên nhưng chỉ một năm sau Ngài xin nghỉ việc bởi thấy có nhiều bất công, oan sai trong khâu xét xử. Trước khi quyết định xuất gia nhập chúng tu tập thì Ngài có nhiều năm liền tham gia Phật sự, nghiên cứu Phật pháp. Năm 1932, phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Trung nở rộ, Hội An Nam Phật học ra đời, bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám là nhà trí thức yêu nước cũng là một Phật tử được bầu làm Hội trưởng kiêm Chủ bút Tạp chí Viên Âm. Phong trào học Phật do bác sĩ tổ chức có nhiều trí thức yêu nước tham gia như: Ngô Điền, Phạm Hữu Bình, Võ Đình Cường… Hòa thượng cùng em trai là Đinh Văn Vinh đến với phong trào học Phật từ năm 1936 do bác sĩ Lê Đình Thám giảng, được phân công đảm nhiệm chức vụ Chánh Thư ký của Hội. Kể từ đó, Ngài gắn bó với Hội và là hạt nhân tiên phong nòng cốt trong phong trào yêu nước chống Pháp và phát động thanh niên tham gia học Phật, góp phần phát triển Phật sự của 17 Tỉnh hội Phật giáo miền Trung. Ngài còn là một trong những người sáng lập Đoàn Thanh niên Phật học Đức dục và Gia đình Phật hóa phổ (tên cũ của tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam sau này), đã có nhiều cống hiến đáng kể như vận động một số Phật tử hội viên của Hội quyên góp, bảo trợ cho Trường Phật học Báo Quốc, tòng lâm Kim Sơn. Lúc nạn đói dưới thời kỳ Nhật chiếm đóng, Ngài đã giúp sơ tán học tăng vào Nam Bộ và gởi gắm các nơi khác có điều kiện hơn. Trong thời gian làm việc ở Hội, Ngài đã học hỏi và thâm hiểu giáo lý Đại thừa Phật giáo. Lúc này, Ngài đã vào ở hẳn tại chùa Tường Vân và thực tập nếp sống thiền môn. Từ đó, Hòa thượng quyết chí xuất gia. Năm 1946, Ngài quy y thọ giới với Trưởng lão Hòa thượng Trừng Thông Tịnh Khiết (về sau là Đức Đệ nhất Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất) tại Tổ đình Tường Vân, thuộc làng Hạ 1, xã Thủy Xuân, thành phố Huế và được bổn sư ban cho pháp danh Tâm Trí, thuộc thế hệ thứ 43 dòng Lâm Tế và là đời thứ 9 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Năm 1949 (Kỷ Sửu) Hòa thượng được bổn sư cho phép thọ Cụ túc giới tại Giới đàn Hộ Quốc chùa Báo Quốc do chính bổn sư làm Đàn đầu Hòa thượng. Trong Đại giới đàn này, Ngài được Hội đồng Thập sư đặc cách cho thọ Tam đàn cụ túc và được Hòa thượng bổn sư ban cho pháp tự Minh Châu, pháp hiệu Viên Dung. Sau khi thọ Cụ túc giới, Ngài vẫn tiếp tục hoạt động với Hội Phật học Trung Phần, diễn giảng Phật pháp khắp các chùa Hội, hướng dẫn các thanh thiếu niên của Gia đình Phật tử, đóng góp bài viết cho tạp chí Viên Âm, Từ Quang, Liên Hoa…, Chủ bút Tạp chí Tư Tưởng, Vạn Hạnh. Năm 1951, khi Hội thành lập Trường Trung học Bồ Đề đầu tiên ở Huế thì Ngài được mời giữ chức Hiệu trưởng. Trong Hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam ba miền được tổ chức tại chùa Từ Đàm năm 1951, Ngài được cử là đại biểu tham dự chính thức. Năm 1952, Ngài được Giáo hội và bổn sư cử du học tại Sri Lanka, học Pali và Anh ngữ tại Colombo. Năm 1955, được Trường Đại học Tích Lan tặng bằng Pháp sư (Saddammcariya). Sau đó, Ngài sang Ấn Độ và theo học tại Trường Nava Nalanda Mahavihara thuộc Đại học Bihar (Ấn Độ). Năm 1958, Ngài nhận được văn bằng Cử nhân Pali và Anh ngữ, đặc biệt đỗ thủ khoa M.A (Cao học) về Pali và Abhidhamma. Tháng 9 năm 1961, Ngài bảo vệ luận án Tiến sĩ Phật học về đề tài “So sánh tập Pali Trung bộ kinh với tập Trung A hàm chữ Hán” (The Chinese Madhyama gama and The Pali Majjhima Nikaya (A comparative study). Ngài là người Việt Nam đầu tiên nhận bằng Tiến sĩ Phật học, Văn học Pali tại Ấn Độ, được đích thân Tổng thống Ấn Độ thời ấy đứng ra trao văn bằng Danh dự và khen ngợi không ngớt về luận án này. Năm 1962-1963, Ngài được Đại học Bihar (Ấn Độ) mời ở lại giảng dạy. Tháng Tư năm 1964, sau khi trở về nước, Ngài đã đem khả năng của mình để ứng dụng vào Phật sự như phiên dịch Kinh tạng, chú trọng đến giáo dục Phật giáo. Ngài được mời giữ các chức vụ: Phó Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn (1964-1965), Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Văn hóa và Giáo dục, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, 1966-1975. Giữa năm 1975, sau khi nước nhà thống nhất, Ngài đã bàn giao cơ sở Viện Đại học Vạn Hạnh tại 222 Trương Minh Giảng quận 3 cho Bộ Giáo dục quản lý. Sau đó, Ngài trở về cơ sở 2 ở Phú Nhuận thành lập Thiền viện Vạn Hạnh, nơi đây Hòa thượng đã tập trung vào việc tiếp tục phiên dịch toàn bộ Kinh tạng Pali sang Việt ngữ. Và cũng tại cơ sở này, Ngài đã mở lớp dạy Phật pháp cho Phật tử sau giờ tan sở và đề xuất với Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh giảng pháp vào sáng Chủ nhật hàng tuần cho tăng ni, Phật tử. Các buổi giảng đầu tiên ở chùa Ấn Quang, chùa Xá Lợi cùng với các Hòa thượng Đôn Hậu, Thiện Châu… Từ đó, phong trào học Phật và nghe giảng pháp vào sáng Chủ nhật hàng tuần được lan rộng khắp các tỉnh thành.
Năm 1980, trước yêu cầu cần thống nhất Phật giáo hai miền Nam Bắc, Ngài cùng chư tôn Hòa thượng Trí Thủ, Trí Tịnh, Thiện Hào, Thiện Châu, Từ Hạnh, Hiển Pháp và các cư sĩ Nguyễn Hữu Thiện, Nguyễn Văn Chế, Võ Đình Cường, Tống Hồ Cầm ở phía Nam; chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa ở phía Bắc thành lập Ban Vận động Thống nhất Phật giáo nước nhà. Hòa thượng làm Chánh Thư ký Ban Vận động. Đến tháng 11 năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, Ngài được Đại hội suy cử giữ chức Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Giáo hội Phật giáo Việt Nam liên tiếp ba nhiệm kỳ I, II và III (1981-1997). Ngài đã từng được đảm nhận các nhiệm vụ trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam như sau: - Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam. - Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. - Tổng vụ trưởng Tổng vụ Giáo dục, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. - Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh. - Viện trưởng sáng lập Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. - Chủ tịch Hội đồng Phiên dịch Đại tạng kinh Việt Nam. - Hiệu trưởng Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, cơ sở I, chùa Quán sứ, Hà Nội. - Sáng lập Tạp chí Nghiên cứu Phật học. - Viện trưởng sáng lập Trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh). - Trụ trì tổ đình Tường Vân, thành phố Huế; Viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. - Đại biểu Quốc hội các khóa VII, VIII, IX và X. Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Xã hội TP.HCM. Ngài được Nhà nước tôn vinh: Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng Nhì; Huân chương Đại đoàn kết. 3. Xây dựng và điều hành Viện Đại học Vạn HạnhSau pháp nạn 1963, đứng trước yêu cầu thực tiễn của xã hội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã chủ trương thành lập hệ thống giáo dục Phật giáo các cấp. Ở huyện và tỉnh có các trường Tiểu học, Trung học Bồ đề. Ở Sài Gòn thì thành lập Viện Đại học Vạn Hạnh. Viện Đại học Vạn Hạnh là Viện Đại học do Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thành lập vào năm 1964 dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa. Đây là viện đại học tư thục Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam. Khi mới thành lập Viện đặt cơ sở tại chùa Xá Lợi và chùa Pháp Hội. Năm học đầu tiên khai giảng vào năm 1964 có hai phân khoa đại học: Phật học; Văn học và Nhân văn với 696 sinh viên ghi danh, Giáo hội cử thầy Thích Nhất Hạnh làm Viện trưởng, nhà văn Hồ Hữu Tường làm Phó Viện trưởng và ông Đặng Viết Hoạt làm phụ tá Viện trưởng. Phân khoa Văn học và Khoa học nhân văn gồm có 7 Ban: Ban Văn học Việt Nam, Ban Đông phương, Ban Triết học, Ban Tâm lý học và thực nghiệm, Ban Sử Địa, Ban Văn học Anh Mỹ và Ban Báo chí học. Ngày 17 tháng 10 năm 1964, Viện Đại học Vạn Hạnh được Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa cấp giấy phép, công nhận Thượng tọa Tiến sĩ Thích Minh Châu làm Viện trưởng và Thượng tọa Thích Mãn Giác làm Phó viện trưởng. Đến năm 1966 Viện được xây dựng mới tại số 222 Trương Minh Giảng, quận 3. Cũng năm này, Ngài cho thành lập Trung tâm Ngôn ngữ trực thuộc Viện đại học, gồm bốn ban: Ban Anh ngữ, Ban Pháp ngữ, Ban Đức ngữ và Ban Nhật ngữ. Năm 1967, Phân khoa Khoa học xã hội được thành lập gồm 5 Ban: Ban Xã hội học, Ban Chánh trị học, Ban Kinh tế học, Ban Thương mại học và Ban Nhân chủng học. Năm 1970 Viện mở thêm phân khoa Giáo dục. Năm 1973 thì thành lập phân khoa Khoa học ứng dụng. Phân khoa này có cơ sở riêng ở đường Võ Duy Nghi, quận Phú Nhuận, tỉnh Gia Định. Số lượng sinh viên năm 1973 – 1974 là 3.661 sinh viên. Thư viện của Viện đại học có hơn 25.000 đầu sách, chia thành phân bộ Phật học và Thế học. Ngoài văn tịch tiếng Việt, thư viện còn có nhiều kinh sách tiếng Bắc Phạn, Nam Phạn, Hoa, Nhật, Anh, Pháp, Đức, trong đó nhiều bộ kinh Phật giáo[3]. Viện Đại học Vạn Hạnh còn cho thành lập Ban Tu thư để xuất bản sách, ấn phẩm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu. Năm 1967, Viện cho xuất bản tạp chí Tư tưởng, cử thầy Tuệ Sĩ làm Chủ bút, tạp chí nghiên cứu chuyên sâu về Phật học, Triết học, Văn hóa và Giáo dục, đến đầu năm 1975 thì đình bản. Sau ngày Đất nước thống nhất, Viện Đại học Vạn Hạnh bị giải thể, bàn giao cơ sở tại số 222 đường Trương Minh Giảng quận 3 cho Bộ Giáo dục quản lý (nay là cơ sở 2 Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, số 222 Lê Văn Sĩ quận 3). Riêng phân khoa Khoa học ứng dụng ở đường Võ Duy Nghi (nay là số 750 đường Nguyễn Kiệm, Phú Nhuận) được Ngài tổ chức thành Thiền viện Vạn Hạnh, nay là cơ sở chính của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng toàn bộ sách vở tại Thư viện Đại học Vạn Hạnh thì đã được thầy Phụ trách trưởng Trường Đại học Sư phạm lúc bấy giờ là thầy Trần Thanh Đạm cho xe chuyển về cơ sở đường Võ Duy Nghi (Nguyễn Kiệm hiện nay). Được biết khi được Giáo hội cử làm Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh thì Ngài đã mở rộng quan hệ với các Đại học danh tiếng ở Âu Mỹ và châu Á, mời các vị Giáo sư về thỉnh giảng cho Đại học Vạn Hạnh, Ngài còn nhiều lần mời một số trí thức nhân sĩ học giả Việt kiều ở nước ngoài về cộng tác với Viện như Giáo sư Trần Văn Khê chẳng hạn. Ngài còn đảm nhận là thành viên Hiệp hội các trường đại học thế giới và châu Á. Chính vì thế mà, Viện Đại học Vạn Hạnh dù chỉ tồn tại hơn mười năm (1964-1975) nhưng lại là một Viện đại học nổi tiếng trong khu vực, được nhiều đại học danh tiếng trên thế giới biết đến và công nhận chất lượng đào tạo của Viện. |
4. Sáng lập, lãnh đạo và phát triển Học viện Phật giáo Việt Nam, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam
Sau khi Phật giáo hai miền tổ chức Đại hội thành lập Giáo hội Phật giáo, do nhu cầu đào tạo tăng tài, cuối năm 1981 Ngài đề nghị Giáo hội thành lập Trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở 1 đặt tại chùa Quán Sứ Hà Nội. Đến năm 1984, Trường Trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở 2 được Nhà nước cho phép thành lập đặt tại Thiền viện Vạn Hạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Giai đoạn đầu, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã mời Ngài làm Hiệu trưởng cả hai trường. Chương trình học theo niên chế. Đến năm 1997 nhằm làm đầu mối giao lưu với các đại học Phật giáo trong khu vực và trên thế giới, nên đổi thành Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, đào tạo theo hệ tín chỉ. Giai đoạn đầu cứ 4 năm tuyển sinh một khóa, từ 2006 thì hai năm tuyển sinh một khóa, và mấy năm gần đây thì tuyển sinh hàng năm. Từ một trường Cao cấp Phật học chỉ đào tạo một chuyên khoa Phật học từ khóa 1 đến khóa 5, thì từ khóa 6 (2006) về sau đào tạo đa ngành. Hiện Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có 13 khoa: khoa Phật giáo Việt Nam (2006), khoa Lịch sử Phật giáo (2006), khoa Triết học Phật giáo (2006), khoa Pali (2006), khoa Trung văn (2006), khoa Phật học Sanskrit (2006), Khoa Hoằng pháp (2009), Khoa Đại học từ xa (2009), khoa Anh văn Phật pháp (2009), khoa Công tác xã hội (2012), khoa Giáo dục mầm non (2015), khoa Y học cổ truyền (2015), khoa Luật học Phật giáo (2020). Đặc biệt, từ năm 2012, theo đề nghị của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự, tại công văn số 1171/VPCP-NC ngày 13/10/2011 của Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép Trung ương Giáo hội mở thí điểm đào tạo Thạc sĩ (MA) chuyên ngành Phật học tại Học viện Phật giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh. Sau một thời gian chuẩn bị, Hội đồng điều hành Học viện đã chính thức khai giảng vào ngày 11/4/2012, khóa thí điểm (2012-2014), gồm 155 Tăng Ni sinh theo học. Đến năm 2020 đã và đang đào tạo được 4 khóa, với tổng số 323 học viên. Tiếp theo, năm 2018, tại công văn số 944/TGCP ngày10-9-2018 của Ban Tôn giáo Chính phủ đã cho phép Học viện đào tạo Tiến sĩ Phật học thí điểm. Về cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học thì Học viện Phật giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 2 cơ sở: cơ sở 1 đặt tại Thiền viện Vạn Hạnh số 750 đường Nguyễn Kiệm, phường 4, quận Phú Nhuận. Cơ sở này là văn phòng chính và đào tạo hệ Sau đại học và cơ sở 2 đặt tại xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đào tạo hệ đại học. Mỗi cơ sở đều có một thư viện với hàng chục ngàn đầu sách phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập. Riêng cơ sở 2 có ký túc xá cho tăng ni sinh nội trú. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ngài là Hiệu trưởng Trường Cao cấp Phật học, rồi Viện trưởng Học viện Phật giáo từ năm 1984 đến năm 2009. Từ năm 2009 đến nay, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh do ngài Pháp chủ Thích Trí Quảng kiêm Viện trưởng. Bên cạnh sáng lập ba Học viện Phật giáo thì Ngài còn là người đề xuất sáng lập Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (1989), Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tại Hà Nội (1990) và Nội san Nghiên cứu Phật học (1990) rồi Tạp chí Nghiên cứu Phật học (1996) với mục đích xiển dương Phật pháp, thực hiện phương châm “Đạo pháp, dân tộc, xã hội chủ nghĩa”, chủ trương “nhập thế, hộ quốc an dân”. Ngài đảm nhiệm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam từ 1989 đến 2009. Học viện Phật giáo Việt Nam ở ba miền và Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam có sự phát triển vượt bậc với nhiều thành tựu đào tạo và nghiên cứu như hôm nay là nhờ công sức khai phá, đặt nền móng vững chắc của Trưởng lão Hòa thượng trong giai đoạn đầu lúc mới thành lập, gầy dựng. |
5. Những đóng góp cho giáo dục Phật giáo Việt Nam
Như trên có giới thiệu, trước 1975, Ngài điều hành Viện Đại học Vạn Hạnh thì sau 1981, bên cạnh thành lập Trường Cao cấp Phật học tại Hà Nội (1981), Thành phố Hồ Chí Minh (1984), Huế để đào tạo tăng ni sinh, thì Ngài còn sáng lập Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (1989), Phân viện Nghiên cứu Phật học tại Hà Nội (1990), Nội san Nghiên cứu Phật học (1990) rồi Tạp chí Nghiên cứu Phật học (1996) để nghiên cứu Phật pháp và phiên dịch kinh điển, đây cũng một biểu hiện của giáo dục Phật giáo.
Với giáo dục Phật giáo, trước sau như một, Ngài áp dụng triết lý nhân bản, dân chủ và khai phóng, với phương châm “Duy Tuệ Thị Nghiêp” (Trí tuệ là sự nghiêp). Chủ trương giáo dục chính mình và tha nhân bằng hình mẫu cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni - nhà đại giáo dục của nhân loại.
Đúng với phương châm “Duy Tuệ Thị Nghiệp”, mọi hoạt động của cơ sở giáo dục Phật giáo đều nhằm mục tiêu cốt yếu là để phát triển trí tuệ. Giáo dục Phật giáo Việt Nam đã xuất phát từ phương pháp giáo dục Từ bi, Trí tuệ và nhân bản của Đức Phật, thừa kế một cách tinh tế và phát triển thuần túy những tinh hoa phương pháp giáo dục Giới - Định - Tuệ. Điển hình tại phân khoa Phật học, sinh viên sẽ được nhận thức rõ trí tuệ là kết quả đạt được của đời sống đạo đức, giữ giới luật, nội tâm được chuyển hóa thành tựu định, là cơ sở cho tuệ phát sinh. Trí tuệ là kim chỉ nam nhập thế của người xuất gia.
Về triết lý giáo dục ở miền Nam Việt Nam, năm 1958, Bộ trưởng Giáo dục Trần Hữu Thế cho tổ chức Đại hội Giáo dục Quốc gia lần thứ nhất tại Sài Gòn. Nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ trí thức, học giả đã tham dự đại hội. Bộ Giáo dục đã mời đại diện quân đội, chính quyền, các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học tham dự. Đại hội đã nhất trí thông qua ba nguyên tắc căn bản làm nền tảng cho triết lý giáo dục Việt Nam cộng hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959, đó là: Nhân bản, Dân tộc, Khai phóng, rồi sau đó được ghi trong Hiến pháp Việt Nam cộng hòa năm 1967. Theo tài liệu Chính sách văn hóa giáo dục của Hội đồng Văn hóa Giáo dục Việt Nam cộng hòa xuất bản năm 1972, có thể hiểu ba nguyên tắc này như sau:
(1) Nhân bản: chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế giới; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời làm căn bản; xem con người như một động lực của sự phát triển chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ. Đề cao những giá trị thiêng liêng của con người. Chủ trương sự phát triển quân bình và toàn diện của mỗi người và mọi người. Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc... Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
(2) Dân tộc: tôn trọng giá trị đặc thù, các truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp và quốc gia. Giáo dục phải biểu hiện, bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác. Giáo dục còn nhằm bảo đảm sự đoàn kết và trường tồn của dân tộc, sự phát triển điều hòa và toàn diện của quốc gia.
(3) Khai phóng: Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải không ngừng hướng tới sự tiến bộ, tôn trọng tinh thần khoa học, mở rộng tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, tinh hoa văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới, góp phần phát triển sự cảm thông và hợp tác quốc tế, tích cực đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại[4].
Cũng như triết lý giáo dục ở miền Nam Việt Nam trước 1975, giáo dục Phật giáo Việt Nam với triết lý giáo dục nhân bản, dân chủ và khai phóng. Triết lý giáo dục nhân bản với chủ trương lấy con người làm căn bản, đối tượng và mục tiêu để hoàn thành sự nghiệp giáo dục. Thừa kế tinh thần và triết lý nhân bản của Đức Phật, giáo dục Phật giáo đề cập và khẳng định con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân hay tổ chức nào khác. Triết lý này chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc. Mọi người đều bình đẳng về giá trị và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục. Điều này giải thích vì sao giáo dục Phật giáo đã tích cực tham gia vào việc định hướng và phát triển giáo dục của đất nước, bảo tồn và phát triển tính độc lập trong giáo dục, góp phần định hướng và phát triển tính truyền thống nhân văn, nhân bản của dân tộc. Đó chính là mục tiêu của Viện Đại học Vạn Hạnh, được thể hiện rõ trong các phân khoa đào tạo các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn,… góp phần phát triển tinh thần dân chủ, tinh thần khoa học trong học tập và nghiên cứu của sinh viên.
Quan điểm giáo dục của Ngài được thể hiện qua những công trình như: Những ngày và những lời dạy cuối cùng của Đức Phật; Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi; Đức Phật - nhà đại giáo dục (2004); Đức Phật của chúng ta (2005); Tâm Từ mở ra, khổ đau khép lại (2006); Những gì Đức Phật đã dạy (2007); Chiến thắng ác ma (2009); Đặc biệt ba bài viết được in trong phần phụ lục của sách Trước sự nô lệ của con người (1969): Đại học Vạn Hạnh một trung tâm Giáo dục ở Sài Gòn, Sự thất bại của giáo dục hiện tại, Một cơ sở giáo dục Phật giáo Việt Nam đối mặt với thế giới hiện tại đã thể hiện rõ quan điểm giáo dục của Ngài.
Trước 1975, vừa điều hành Đại học Vạn Hạnh, vừa trực tiếp giảng dạy tại đây và thỉnh giảng ở các đại học khác, Ngài đã từng quan niệm rằng người làm công tác giáo dục là “những người gieo hạt”. Tôi rất ấn tượng và nhớ như in giọng nói cùng động tác của Ngài. Đang ngồi giảng bài thì Ngài đứng lên và nói “Chúng ta là những người gieo hạt. Chỉ cần một nửa số hạt được gieo nảy mầm là chúng ta đã thành công rồi”. Ngài vừa nói vừa vung tay ra y như động tác của người nông dân đang gieo hạt. Rất thú vị.
Quan điểm, tư tưởng giáo dục của Ngài được trình bày rõ trong tiểu luận “Sự thất bại của giáo dục hiện tại” (1969) với một tầm nhìn khai phóng, rộng mở dù đã phát biểu cách đây 55 năm nhưng hôm nay vẫn còn nguyên giá trị của nó. Qua năm năm quản lý và điều hành Viện, Ngài đã rút ra ‘sự thất bại” này và chỉ ra nguyên nhân của nó là do quản trị đại học, là do giải thích sai lầm về bản chất giáo dục (l’essence de la paideia). Theo Ngài, “Viện Đại học Vạn Hạnh đã được thành lập và trưởng thành giữa những hoàn cảnh khó khăn, dù là Viện Đại học nghèo nhất Việt Nam”. Ở đây, Ngài “không tô đậm ý nghĩa của sức mạnh tinh thần, nhấn mạnh ý nghĩa của đời sống tâm linh, đánh thức lòng tự tin của tuổi trẻ và vẫn luôn luôn cố gắng giữ vững tinh thần bất lay chuyển trước những biến động cuồn cuộn của thời thế”. Giữa những khủng hoảng tràn lan khắp mọi bình diện hiện nay, Ngài “vẫn đặt niềm tin vào sự lớn mạnh của trái tim con người”. Tin rằng “cái không thể làm được vẫn có thể làm được”. Theo Ngài, “ý nghĩa của giáo dục trong ý nghĩa đầu tiên của nền văn minh phương Tây phải chăng chỉ là tin rằng con người có thể được đưa ra khỏi bóng tối của hang sâu để nhìn thấy được ánh sáng thật sự ở bên ngoài”, tức “quay hướng con người từ chỗ che dấu ra chỗ mở bày: chỗ mở bày hé lộ ra ấy được gọi là chân lý”. “Ý nghĩa của giáo dục là biến đổi, thăng chuyển con người bị nô lệ trong hang tối trở thành con người tự do và con người chỉ thực sự là con người là khi con người tự do. Nhân tính chỉ được thực hiện đồng lúc với Tự do và Tự do chỉ thực hiện đồng lúc với Chân lý. Do đó chúng ta phải nhận thức ngay rằng bản chất của giáo dục được đặt căn bản trong bản chất của chân lý”. Trên cơ sở đó, Ngài đã nêu lên ba mục tiêu chính yếu mà Đại học Vạn Hạnh cần duy trì là “(1) Tinh thần đại học, (2) Giá trị đại học, (3) không khí đại học” mà theo Ngài, ba mục tiêu ấy chỉ là một, đó là tinh thần đại học, vì giá trị đại học và không khí đại học là hậu quả của tinh thần đại học. Mà sứ mệnh gần nhất và thiết thực nhất của đại học hiện tại là “làm sống dậy lòng tin của tuổi trẻ, tin tưởng ở khả năng của chính mình, tin tưởng ở bậc đàn anh của mình, tin tưởng ở tương lai tốt đẹp của dân tộc, tin tưởng ở giá trị thiêng liêng của giáo dục và của con người”[5]. Có thể thấy bài tiểu luận trên đã thể hiện tâm huyết của Ngài về giáo dục, đã truyền ngọn lửa niềm tin cho thế hệ trẻ, mà tuổi trẻ là tương lai của dân tộc, là mùa xuân của nhân loại.
6. Trước tác và dịch thuật kinh tạng Pali
Trước tác:
- Sách viết bằng tiếng Anh: (1) Hsuan T'sang, The Pilgrim and Scholar (Huyền Trang - nhà chiêm bái và học giả, NS.Trí Hải dịch sang tiếng Việt); (2) Fa-Hsien, The Unassuming Pilgrim (Pháp Hiển - nhà chiêm bái khiêm tốn, NS.Trí Hải dịch sang tiếng Việt); (3) Milindapannha And Ngasenabhikhustra - A comparative study (Cư sĩ Nguyên Tâm Trần Phương Lan dịch sang tiếng Việt); (4) The Chinese Madhyama gama and The Pali Majjhima Nikaya (A comparative study) - Luận án Tiến sĩ Phật học (NS.Trí Hải dịch sang tiếng Việt); (5) Some Teachings of Lord Buddha on Peace, Harmony and Humadignity.
- Sách viết bằng tiếng Việt: (1) Phật pháp (đồng tác giả); (2) Đường về xứ Phật (đồng tác giả); (3) Những ngày và những lời dạy cuối cùng của Đức Phật; (4) Trước sự nô lệ của con người – con đường thử thách của văn hóa Việt Nam –Tu thư Đại học Vạn Hạnh. 1969, tb 1970; (5) Đại thừa và sự liên hệ với Tiểu thừa (dịch); (6) Sách dạy Pali; (7) Dàn bài Kinh Trung bộ (chưa in); (8) Toát yếu Kinh Trường bộ (chưa in); (9) Toát yếu Kinh Trung bộ (chưa in); (10) Chữ Hiếu trong đạo Phật (đồng tác giả); (11) Hành thiền; (12) Lịch sử Đức Phật Thích Ca; (13) Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi; (14) Chánh pháp và hạnh phúc; (15) Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người (2002); (16) Những mẩu chuyện đạo (2004); (17) Đức Phật - nhà đại giáo dục (2004); (18) Đức Phật của chúng ta (2005); (19) Tâm Từ mở ra, khổ đau khép lại (2006); (20) Những gì Đức Phật đã dạy (2007); (21) Hiểu và hành Chánh pháp (2008); (22) Chiến thắng ác ma (2009).
Dịch thuật kinh tạng Pali sang Việt ngữ: (1) Trường bộ kinh (2 tập); (2) Trung bộ kinh (3 tập); (3) Tương ưng bộ kinh (5 tập); (4) Tăng chi bộ kinh (5 tập); (5) Tiểu bộ kinh: gồm: Pháp cú (Kinh Lời vàng), Kinh Phật tự thuyết, Kinh Phật thuyết như vầy, Kinh Tập, Trưởng lão Tăng kệ, Trưởng lão Ni kệ, Bổn sanh (2 tập); Thắng pháp tập yếu luận (Abhidhamma Atthasangaha).
Với những trước tác và dịch thuật đồ sộ như trên, Ngài xứng đáng được tôn vinh là một học giả hàng đầu của học giới ở Việt Nam thời hiện đại.
7. Kết luận
Tóm lại, Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giáo dục Phật giáo với phương châm “Duy Tuệ Thị Nghiệp” theo tinh thần triết lý nhân bản, dân chủ và khai phóng. Không kể việc Ngài đã giảng dạy và tổ chức giảng thuyết về Phật pháp, chỉ tính riêng việc Ngài đặt nền móng xây dựng và phát triển Viện Đại học Vạn Hạnh từ những ngày đầu non trẻ để trở thành một viện đại học đa ngành, có tiếng trong khu vực và trên thế giới thì đã là một đóng góp rất lớn rồi. Càng đóng góp nhiều hơn khi Ngài là một trong vài người tiên phong góp phần sáng lập Trường Cao cấp Phật học Việt Nam mà sau này là Học viện Phật giáo Việt Nam ở cả ba miền từ chuyên ngành trở thành học viện đa ngành, rồi sáng lập Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tại Hà Nội, Nội san Nghiên cứu Phât học rồi Tạp chí Nghiên cứu Phật học với mục đích xiển dương tư tưởng giáo lý Phật đà phổ biến rộng rãi trong đời sống xã hội. Về trước tác, Ngài đã cho xuất bản 05 đầu sách Anh ngữ, 22 đầu sách Việt ngữ, dịch 24 tập kinh tạng Pali sang Việt ngữ, mà việc Đại tạng kinh này Ngài là người tiên phong ở nước ta. Đây là một thành tựu lớn mà không phải bất kỳ nhà nghiên cứu nào cũng có thể đạt được. Với những đóng góp đó, Ngài rất xứng đáng được tôn vinh là bậc tùng lâm thạch trụ của giáo hội Phật giáo Việt Nam thời hiện đại và là nhà giáo dục - văn hóa tư tưởng lớn của Việt Nam thế kỷ XX.
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Công Lý
GVCC Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG Tp.HCM
Mùa Vu lan Giáp Thìn 2024
Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ, số 342 (tháng 9-2024)
Tạp chí Mặt Trận, UBMTTQVN, số tháng 11-2024
***
Chú thích
[1] Đế hệ thi là bài thơ dùng để đặt tên cho các thế hệ hoàng nam của triều nhà Nguyễn dưới đời vua Minh Mệnh, bắt đầu là chữ ‘Miên” tức vua Thiệu Trị (Nguyễn Phúc Miên Tông). Bài thơ như sau: “Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh, Bảo Quý Định Long Trường, Hiền Năng Kham Khế Thuật, Kế Thoại Quốc Gia Xương”.
[2] Chức vụ này tương ứng với chức Giám đốc sở Giáo dục và Đào tạo hiện nay là quản lý, trông coi việc học tập, giáo dục trong tỉnh, nhưng khác với hiện nay ở chỗ, ngày xưa quan Đốc học còn phải trực tiếp giảng dạy tại trường Đốc. Về trường công lập trong tỉnh, dưới trường Đốc còn có trường Giáo (trường của các phủ do quan Giáo thụ đảm nhiệm), trường Huấn (trường của các huyện do quan Huấn đạo đàm nhiệm), tại các tổng, xã, nhiều nơi chính quyền địa phương còn lập nhà Xã học mời thầy về dạy học cho con em trong tổng, xã, kinh phí do địa phương lo liệu và trường tư của các thầy đổ mở trong tỉnh; Ngoài việc trực tiếp giảng dạy tại trường Đốc, hàng tháng quan Đốc học còn tổ chức bình văn, tập văn tại trường. Những kỳ bình văn, tập văn này đã quy tụ nhiều học sinh của trường Giáo, trường Huần và các trường tư đến dự, nhằm mục đích rèn văn, tập viết các thể văn trường thi, nắm các thể thức quy chế chi, và hàng năm thường tổ chức kỳ thi Khảo hạch, Khảo khóa để chuẩn bị cho thí sinh đi thi Hương trong tương lai. Việc quan Đốc học tổ chức các kỳ thi Khảo hạch, Khảo khóa nhằm mục đích xét trình độ năng lực của học sinh hàng năm. Những học sinh nào vượt qua kỷ Khảo khóa, thì đủ điều kiện để làm hồ sơ đi thi Hương do triều đình tổ chức (Bộ Lễ đảm nhận) theo từng vùng (thường là 3 năm tổ chức một lần vào các năm Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu). Trong kỳ thi Hương, quan Đốc học phải có nhiệm vụ đến tận cửa trường thi để phát Quyển thi cho các sĩ tử là thí sinh của tỉnh do mình phụ trách, sau khi nghe loa xướng danh gọi các sĩ tử đi vào trường thi cắm lều chõng và chuẩn bị các thứ cần thiết để sau đó tiến hành làm bài thi sau khi có hiệu lệnh của quan trường thi. (Xin xem: Nguyễn Công Lý, Giáo dục – Khoa cử và Quan chế ở Việt Nam thời phong kiến, thời Pháp thuộc, Nxb ĐHQG TP. HCM, 2011).
[3] Chúng tôi lấy số liệu từ hồ sơ luu trữ tại Thư viện Thiền viện Vạn Hạnh (Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam), số 750 đường Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận, TP. HCM.
[4] Hội đồng Văn hóa Giáo dục Việt Nam cộng hòa: Chính sách văn hóa giáo dục. Sài Gòn. 1972.
[5] Những trích dẫn để trong dấu “..” ở đoạn văn này được trích từ tiểu luận “Sự thất bại của giáo dục hiện tại”, trong sách “Trước sự nô lệ của con ngươi”. Nha Tu thư và Sưu khảo Viện Đại học Vạn Hạnh ấn hành, bản in lần thứ hai 1970, trang 285- 293.







Bình luận (0)